Thứ Ba, 6 tháng 1, 2009

CDA phê phán vụ việc bảo kê đề tài phản giáo dục - mã số QN.02.02 cấp Đại học Quốc gia Hà Nội

@


Nhà giáo Đỗ Bá Lộc - Nguyên Uỷ viên - Thư ký Hội đồng Ngữ học & Việt học Bộ Giáo dục và Đào tạo - Tác giả bài viết trên Báo “Quân đội nhân dân cuối tuần” đã đọc văn bản mạo danh Giám đốc ĐHQGHN - số 3133/KHCN và kết luận văn bản (VB) đó không phải do người có trình độ quản lý cấp ĐHQG soạn thảo. Dựa vào khoa học phân tích VB và thực tế, Nhà giáo đã chỉ ra nhiều vấn đề sai phạm liên quan từ Thông báo số 3133/KHCN là:
- Người soạn thảo VB không nắm được luật Giáo dục của CHXHCNVN.
- Người soan thảo VB xử lý thông tin không trung thực.
- Người soạn thảo VB không có VB kết luận của Giám đốc ĐHQGHN (ghi Ngày - Tháng - Năm và Chữ ký).
- Ông Vũ Minh Giang không xử lý đề tài Giáo dục học QN.02.02, không thực hiện phương pháp làm việc khách quan, lịch sử, không phân tích đối chiếu VB, chỉ dựa vào quyền năng chủ quan để kết luận vấn đề theo cách làm việc mang tính cá nhân.
- Ông Vũ Minh Giang không xử lý đề tài Giáo dục học QN.02.02 để tạo cơ hội cho Chu Thị Thanh Tâm thực hiện những suy nghĩ và hành vi xấu trong giáo dục đào tạo, trong quan hệ với đồng nghiệp và Báo chí, để cho thực hiện tiếp đề tài QG.05.41.
- Ông Vũ Minh Giang không xử lý đề tài Giáo dục học QN.02.02, nhưng lại bảo vệ quan điểm trái ngựợc của Chu Thị Thanh Tâm với các Văn kiện nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục ở Việt Nam

Dưới đây là nội dung tóm tắt CDA (Phân tích diễn ngôn phê phán):
1. Ông Vũ Minh Giang kết luận “không thể đánh giá TS. Chu Thị Thanh Tâm về mặt tư cách đạo đức cũng như năng lực khoa học” là không có trách nhiệm trước dư luận nhân dân và báo chí, là lẩn tránh thông tin phê phán Chu Thị Thanh Tâm từ các báo: Quân đội nhân dân, Giáo dục thời đại, Thể thao & Văn hoá, Văn nghệ trẻ, là coi thường dư luận của sinh viên và giảng viên môn CSVHVN ở trường ĐHNN, là mâu thuẫn với Quyết định của trường Đại học Ngoại ngữ về việc cấm dùng sách “Đổi mới phương pháp day-học môn Cơ sở văn hoá Việt Nam“ (Sách này chính là đề tài Chuyên ngành giáo dục, mã số QN.02.02 đem đổi tên và được NXB ĐHQGHN cho in ra). Đó cũng là sự cố tình phớt lờ những ý kiến cởi mở, thẳng thắn và nhân đạo xã hội của Nhà giáo Đỗ Bá Lộc (là người xây dựng môn CSVHVN ở Trường ĐHNN, cũng là người hướng dẫn Chu Thị Thanh Tâm học về môn CSVHVN từ những năm 91 của thế kỷ trước và là người biết rõ năng lực và đạo đức của Chu Thi Thanh Tâm là như thế nào).
Hành vi khai khống các công trình NCKH, hành vi liên hệ với các phản biện vì mục đích phi khoa học, hành vi lựa chọn người phản biện, hành vi chạy xin ý kiến các nhà khoa học mà ông Vũ Minh Giang đã biết chính là cơ sở để đánh giá đạo đức & năng lực khoa học của Chu Thị Thanh Tâm .
2. Ông Vũ Minh Giang kết luận: Việc nghiêm thu đề tài QN.02.02 do TS Chu Thị Thanh Tâm làm chủ nhiệm giao cho đơn vị quản lý, được thành lập theo đúng quy trình và các văn bản pháp qui hiện hành” là sai và rất hệ trọng trong quản lý NCKH ở ĐHQGHN.
việc nghiệm thu đề tài QN.02.02 là không làm đúng quy trình và các văn bản pháp qui hiện hành.
3. Cụm từ “văn bản pháp qui hiện hành” được nêu ra là cơ sở pháp lý trong diễn trình xử lý các đề tài có vấn đề kéo dài từ năm 2004 đến nay. Trước pháp luật, luật sư phải dựa vào các văn bản pháp qui hiện hành để bảo vệ hay không bảo vệ thân chủ của mình(Diễn trình giải quyết vụ việc nhà đất ở ĐHQGHN đến nay chưa kết thúc, cũng đã theo hướng như vậy).
4. Một số điều khoản trong VB pháp qui hiện hành của ĐHQGHN phải được vận dụng để xử lý đề tài chuyên ngành giáo dục học QN.02.02 và để ra Quyết định đình chỉ hoạt động của đề tài QG.05.41 do TS Chu Thi Thanh Tâm chủ trì:
“ Hướng dẫn về quản lý các đề tài Khoa học và Công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội“(Theo Quyết định số 937/KHCN ngày 19 tháng 3 năm 2007 của Giám đốc ĐHQGHN).
Điều 26. Nội dung đánh giá nghiệm thu các đề tài khoa học/công nghệ của ĐHQGHN
- Giá trị khoa học của các kết quả nghiên cứu: Giải quyết những nhiệm vụ KHCN của ngành; theo định hướng ưu tiên của Nhà nước và của ĐHQGHN; có giá trị khoa học cao; tính mới, tính sáng tạo; độ tin cậy cao (phương pháp nghiên cứu tiên tiến; thiết bị hiện đại, được công bố trên những tạp chí chuyên ngành có uy tín quốc tế, quốc gia, báo cáo tại những hội nghị khoa học lớn ở trong và ngoài nước,...).
- Giá trị ứng dụng: Phát triển công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới; có bằng sáng chế,...; cung cấp những luận cứ khoa học có giá trị, thiết thực góp phần hoạch định chủ trương đường lối, cơ chế chính sách
Điều 27. Hội đồng đánh giá nghiệm thu các đề tài cấp ĐHQGHN:
- Hội đồng đánh giá nghiệm thu đề tài cấp ĐHQGHN do Giám đốc ĐHQGHN ra quyết định thành lập. Hội đồng nghiệm thu đề tài đặc biệt và đề tài ĐHQGHN có từ 7 - 9 thành viên, hội đồng nghiệm thu các đề tài trọng điểm có từ 7 -11 thành viên, trong đó không quá 1/3 số thành viên hội đồng là đại diện cho cơ quan quản lý Nhà nước, cơ sở sản xuất, ứng dụng liên quan. Tối thiểu phải có 1/3 số thành viên hội đồng là cán bộ ngoài cơ quan chủ trì đề tài. Đối với đề tài có sản phẩm đã được ứng dụng, thử nghiệm, triển khai phải có đại diện cơ sở ứng dụng, nhận chuyển giao kết quả nghiên cứu đề tài tham gia hội đồng:
- Hội đồng có chủ tịch và các thành viên khác bao gồm thư ký, 2 uỷ viên phản biện (là các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu, không trong cùng một cơ quan, trong đó có ít nhất 1 phản biện ngoài ĐHQGHN) và các uỷ viên hội đồng.
- Thành viên hội đồng phải là các chuyên gia khách quan, có trình độ chuyên môn phù hợp và am hiểu lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. Thành viên hội đồng chịu trách nhiệm trước Giám đốc ĐHQGHN về kết quả đánh giá nghiệm thu đề tài.
Điều 33. Chế tài xử lý đối với các đề tài không hoàn thành và chủ nhiệm đề tài không hoàn thành:
- Các đề tài đã quá hạn 6 tháng so với thời gian quy định (kể cả thời gian được gia hạn) mà chưa được nghiệm thu, các đề tài được hội đồng nghiệm thu đánh giá ở mức không đạt yêu cầu; các đề tài vi phạm các quy định trong hướng dẫn hoặc không đủ khả năng tiếp tục thực hiện có quyết định đình chỉ thực hiện đề tài của cấp quản lý có thẩm quyền được xem là đề tài không hoàn thành.
- ĐHQGHN ra quyết định xử lý với các đề tài trọng điểm/đặc biệt/cấp ĐHQGHN không hoàn thành; thủ trưởng đơn vị ra quyết định xử lý với các đề tài cấp cơ sở không hoàn thành.
…….
- Trong trường hợp cần thiết, ĐHQGHN/đơn vị chủ trì ra quyết định thành lập hội đồng để thẩm định, đánh giá mức độ nội dung không hoàn thành với các đề tài thuộc thẩm quyền quản lý. Căn cứ kết quả đánh giá của hội đồng và kết quả xác minh nguyên nhân dẫn đến việc đề tài không hoàn thành, các cấp quản lý phê duyệt đề tài (ĐHQGHN/đơn vị trực thuộc) ra quyết định xử lý thu hồi toàn bộ hoặc một phần kinh phí đã cấp theo các quy định hiện hành của Nhà nước.
- Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định về việc nộp trả kinh phí cho ngân sách nhà nước của các cấp quản lý có thẩm quyền, đơn vị chủ trì và chủ nhiệm đề tài có trách nhiệm nộp hoàn trả kinh phí cho ngân sách Nhà nước theo phân cấp quản lý ngân sách, và theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của ĐHQGHN.
- Chủ nhiệm đề tài không hoàn thành không được xem xét, bổ nhiệm làm chủ nhiệm các đề tài mới của ĐHQGHN trong vòng 36 tháng kể từ ngày hết thời hạn thực hiện của đề tài (với các đề tài quá hạn cho phép/nghiệm thu không đạt yêu cầu) hoặc từ ngày có quyết định đình chỉ thực hiện (với các đề tài không hoàn thành do những nguyên nhân khác).
- ĐHQGHN thông báo danh sách các chủ nhiệm đề tài cấp ĐHQGHN không hoàn thành tới các đơn vị trực thuộc. 9. Căn cứ mức độ, nguyên nhân không hoàn thành đề tài (cấp ĐHQGHN, cấp cơ sở), thủ trưởng đơn vị trực thuộc có trách nhiệm xem xét, xử lý chủ nhiệm các đề tài không hoàn thành như cán bộ viên chức không hoàn thành nhiệm vụ theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của ĐHQGHN.”
5. Ông Vũ Minh Giang kết luận: Hội đồng nghiệm thu đề tài chuyên ngành Giáo dục học, mã số QN.02.02 “là một hội đồng khoa học hoàn toàn phù hợp với quy trình quản lý KHCN của ĐHQGHN tại thời điểm năm 2004” là đối ngược với thực tế của vụ việc QN.02.02 (vi phạm Điều 27).
6.Các luận cứ phủ định kết luận bảo kê của ông Vũ Minh Giang:
A.
(1) Uỷ viên phản biện 1: GS. Trần Quốc Vượng là bố đẻ của người thực hiện đề tài, ông không phải là chuyên gia Giáo dục học, ông không biêt gì về CNTT.
(2) Uỷ viên phản biện 2: TS. Nguyên Lân Trung không phải là chuyên gia CNTT, không phải là chuyên gia giáo dục học, không phải là giảng viên CSVHVN.
(3) Ủy viên hội đồng: TS Nguyễn Thị Phương không biết về CNTT, không phải là giảng viên CSVHVN.
B.
(4) Nôi dung phản biện không đánh giá đúng thực trạng của đề tài do người viết không phải là chuyên gia Giáo dục học, chuyên gia CNTT, không phải là giảng viên CSVHVN.
(5) Nội dung phản biện không khách quan do người phản biện không đọc kỹ đề tài.
(6) Nôi dung phản biện không khách quan vì người viết là Bố đẻ của người thực hiện đề tài.
C.
(7) Người thực hiện đề tài liên hệ với người phản biện trước thời gian nghiệm thu đề tài.
(8) Thay đổi Uỷ viên Hội đồng vì mục đích phi khoa học.
(9) Không để Chủ nhiệm bộ môn Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam - Trường ĐHNN vào Hội đồng
nghiệm thu đề tài QN.02.02 vì ông là người phát hiên ra nhiều sai sót của đề tài về CNTT, về kiến thức VHVN, về Giáo dục học.

7. Các câu hỏi của phụ huynh đề nghị ĐHQGHN trả lời trên báo chí:
Câu hỏi 1:
Trong tuyển sinh đại học, Bố không được phép Chấm bài thi của Con, nếu phát hiện ra thì kết qủa bài thi sẽ bị huỷ. Vậy tại sao đề tài Chuyên ngành giáo dục học QN.02.02 bị phát hiện: phản biện là bố của người thực hiện đề tài, nhưng ĐHQGHN vẫn không xử lý kỷ luật Đề tài và những người có liên quan đén đề tài?
Câu hỏi 2:
Tại sao trong phản biện đề tài trước đây, ĐHQGHN lại cho phép người có chuyên môn này chấm đề tài ở chuyên môn khác? Điều này có đi ngược lại những qui đinh của Giáo dục Đào tạo?
Câu hỏi 3:
Xin cho biết vì sao ĐHQGHN lại để tiến sĩ không có chuyên môn phù hợp với đề tài Chuyên ngành giáo dục học QN.02.02 làm uỷ viên Hội đông nghiệm thu? ĐHQGHN xử lý bê bối này như thế nào?
Câu hỏi 4: Kết luận “Đây là một hôị đồng khoa học hoàn toàn phù hợp với quy trình quản lý KHCN của ĐHQGHN tại thời điểm năm 2004” trong thông báo 3133/KHCN là sai vì đã lấp liếm sự thật và bảo kê đề tài QN.02.02. ĐHQGHN nghĩ như thế nào về sự dối trá này?
Câu hỏi4.
Ông Vũ Minh Giang kết luận “ĐHQGHN quản lý hoạt động KHCN bằng qui trình theo các văn bản pháp qui”. Nhưng đề tài chuyên ngành Giáo dục QN.02.02 đã được thực hiện sai qui trình. (vi phạm Điều 27)
Vậy tại sao ĐHQGHN không xử lý đề tài theo các văn bản pháp qui, mà lại cố tình “dưa vào kết luận đánh giá của các chuyên gia phát biểu với tư cách là thành viên các Hội đồng nghiệm thu.” Thực tế, việc phản biện đề tài chuyên ngành giáo dục QN.02.02 là không có chuyên gia nào hết. Như vậy, Giáo sư Vũ Minh Giang đã kết luận sai. Ông nên đi vào thực tế diễn trình nghiệm thu đề tài khoa học ở ĐHQGHN để có kết luận đúng.
8. Đối với đề tài QG.05.41 là có thể “dựa vào kết luận đánh giá của các chuyên gia” vì Hội đồng bảo vệ đề cương đã có những uỷ viên chuyên môn:
- Giáo sư, Tiến sĩ Lê Quang Thiêm, Giáo sư Ngôn ngữ học đối chiếu, Tác giả cuốn “Nghiên cứu đối chiêu các ngôn ngữ. NXB.ĐHQGHN….
- Tiến sĩ Võ Đại Quang, giảng viện Ngữ dụng học …..
- Nhà giáo Đỗ Bá Lộc, giảng viên Ngôn ngữ học Đối chiếu ( cho Khoa NN & VH Anh- Mỹ, khoa NN & VH Trung Quốc, khoa NN & VH Pháp) - giảng viên CSVHVN, giảng viên DLNNH, giảng viên Ngữ dụng học, giảng viên TV thực hành và TV lý thuyết. (cho Bộ môn NN & VH Việt Nam).
9. Đề nghị ông Vũ Minh Giang trực tiếp đọc các văn bản sau để có kêt luận khách quan:
- Bài viết “Nhân đọc nữ Tiến sĩ đại học Quốc gia Hà Nội. Đau lòng từ những điều trông thấy” đằng trên Báo QĐND cuối tuần, ngáy 01 tháng 7 năm 2007.
- Đề tài Giáo dục học QN.02.02
- Phản biện đề tài (văn bản và văn thoại)
- Kết luận của Hội đồng nghiệm thu.
- Các ý kiến trên báo chí, trên Internet
10. Ông Vũ Minh Giang kết luận rằng ý kiến của Nhà giáo Đỗ Bá Lộc “chưa đủ cơ sở để phủ nhận ý kiến của hai phản biện cũng như kết luận của Hội đồng nghiệm thu” chứng tỏ giáo sư đã không làm việc một cách khách quan trên cơ sở khảo sát, phân tích các văn bản (xin xem mục 3 đã nêu ở trên) nhằm chối từ xử lý đề tài Giáo dục học QN.02.02, tránh vi phạm Điều 33, tạo cơ hội cho Chu Thị Thanh Tâm làm tiếp Đề tài QG.05.41 với một số tiền quá lớn so với lương của giáo sư

11. Những kết luận về đề tài chuyên ngành Giáo dục học QN.02.02. để xử lý theo văn bản pháp qui hiện hành:
- Đề tài không hoàn thành được các nhiệm vụ chính (vi phạm Điều 26):
(1)Khái niệm, Cấu tạo, Vai trò, Khả năng ứng dụng của “Bài giảng điện tử” vào viêc dạy học môn Cơ sở văn hoá Việt Nam không được đặt ra để nghiên cứu ở Chương 1. Vây đề tài không thực hiện được nhiệm vụ chính thứ nhất.(xem trang 6, tập 1 của Đề tài)
(2)Kỹ năng học môn Cơ sở văn hoá Việt Nam bằng “ Bài giảng điện tử” cho sinh viên không được đặt ra ở Chương 2 . Vậy đề tài không thực hiện được nhiệm vụ chính thứ năm (xem trang 6, tập 1 của đề tài)
(3)Mục tiêu bài học, câu hỏi theo bài không ăn khớp với “Bài giảng điện tử” ở chương Vậy đề tài không thực được nhiêm vụ chính thứ tư (xem trang 6, tập 1 của đề tài)
(4)Bài giảng mẫu trình bầy hời hợt & sai lạc nội dung VHVN và không có hướng dẫn kỹ năng học cho sinh viên. Do đó đề tài không thực hiện được nhiệm vụ chính thứ ba (xem trang 6, tâp1 của đề tài).
(5)Bài giảng mẫu không hướng dẫn kỹ năng soạn, kỹ năng diễn hình “Bài giảng điện tử”
- Đề tài không thực hiện được mục đích nghiên cứu (vi phạm Điều 26):
(1)Vì không hoàn thành các nhiệm vụ chính nói trên mà đề tài QN.02.02 không “hình thành được giáo học pháp tin học cho môn CSVHVN” như mục đích thứ nhất đã đặt ra.
(2)Các thuật ngữ “kỹ năng soạn bài gỉảng”, “kỹ năng lấy giữ liệu trên mạng”, “kỹ năng trình bầy” nêu ra trong đề tài là thiếu nghiêm túc bởi đó chỉ là những tên gọi cho oai. Trong đề tài chẳng có nội dung nghiên cứu về các kỹ năng.
(3)Cụm từ “Giáo học pháp tin học”, Cụm từ “Giáo học pháp tin học cho môn Cơ sở văn hoá Việt Nam” chỉ là những tên gọi không có nội dung thông tin.Thật là…
- Đề tài thiếu cơ sở hiểu biết về CNTT
(1)Không phân biệt được thuật ngữ IT và ICT trong nghiên cứu ứng dụng vào dạy học môn CSVHVN.
(2)Các tài liệu về IT(công nghệ thông tin:CNTT) và ICT(công nghệ thông tin - truyền thông: CNTT-TT) bằng tiếng Pháp không được làm rõ khi trích dẫn trong đề tài.
(3)Kiến thức CNTT ở Chương 1 không được ứng dụng cụ thể, ứng dụng như thế nào vào Chương 2.
(4)Không tạo ra được những khái niệm, những kỹ năng cấu tạo “Bài giảng điện tử” và kỹ năng dạy học bằng “Bài giảng điện tử”.
- Mục tiêu bài giảng không ăn khớp với nội dung “Bài giảng điện tử”
Hầu hết “Bài giảng điện tử” trong đề tài đều vi phạm kết luận này.
- Đề tài Giáo dục học QN.02.02 là phản giáo dục
- “Bài giảng điện tử” trong đề tài Giáo dục học đưa thông tin sai nội dung giáo trình CSVHVN

Đỗ Bá Lôc
Nguyên Ủy viên & Thư ký Hội đồng Ngữ học & Việt học Bộ Giáo dục và Đào tạo


======= Mời Quý vị nhấn chuột vào dòng chữ xanh (hoặc rê chuột vào dòng chữ: nhận xét hoặc dòng chữ vàng hay dòng chữ đỏ) để tiếp tục theo dõi thông tin.

3 nhận xét:

Nặc danh nói...

Kính gửi "Cơ sở Diễn ngôn Việt'.
Chúng tôi xin có một số ý kiến về vụ việc đánh giá & nghiệm thu đề tài yếu kém của tiến sĩ Chu Thị Thanh Tâm như sau:
1. Một số vị trong Hội đồng do nhận được quà và do có quan hệ làm ăn với Chu Thị Thanh Tâm, nên đã đã đề nghị cho chuyển đề tài yếu kém thành sách.
2. Một số vị khác cũng trong Hội đồng nhận xét đề tài yếu kém của Chu Thi Thanh Tâm, do không đọc các tài liệu dẫn trong đề tài, do không có kinh nghiệm giảng dạy ở Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN, do không theo dõi các thông tin bằng tiếng nước ngoài, do kiến thức khoa hoc hạn hẹp, do không biết làm việc trên internet, do bận nhận phản biện đề tài quá nhiều, do là giáo sư nhưng không có chuyên môn - nên đã khen đề tài của Chủ Thị Thanh Tâm là có cái mới và có thể đem vào giảng dạy ở Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN
3. Một số trường Đại học khác, tưởng là Chu Thị Thanh Tâm giỏi, hoặc có quan hệ riêng, nên đã mời vi tiến sĩ yếu kém này giảng dạy. Nếu Bộ Giáo dục & Đào tạo cho thanh tra kiểm tra các khóa học ở các trường ấy và ra thông báo vụ việc, thì chúng ta sẽ thấy rõ sự thật hơn nữa.



Phụ huynh
Thông tin gửi đến Cơ sở Diễn ngôn Việt

Nặc danh nói...

"...Các doanh nhân, các nhà hảo tâm và những nhà khoa học thật sự xin hãy lên lên tiếng và đóng góp tài chính để thực hiện đề tài khảo sát các công trình yếu kém ở Đại học Quốc gia Hà Nội kiểu như đề tài của Tiến sĩ yếu kém Chu Thị Thanh Tâm, nhằm phát triển khoa học nước nhà."
(trích thư gửi đến cơ sở Diễn ngôn Việt)
Người đương thời

Nặc danh nói...

"..Chúng tôi biết ơn Cơ sở diễn ngôn Việt, vì qua đó, chúng tôi thấy được sự thật đáng xấu hổ trong NCKH và Giáo dục ở Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin lỗi không nói tên mình vì sợ bị trả thù, hiện tôi đang công tác Tại ĐHQGHN"
Bạn đoc (gửi đến)