Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2009

VĂN BẢN 3133/KHCN CỦA ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI LÀ VĂN BẢN DỐI TRÁ NHẰM THỰC HIỆN KẾ HOẠCH BẢO KÊ TIẾN SĨ YẾU KÉM CHU THỊ THANH TÂM

CDA chỉ ra những yếu kém của văn bản 3133/KHCN và một số vị lãnh đạo của ĐHQGHN

@
Nhà giáo Đỗ Bá Lộc - Nguyên Uỷ viên & Thư ký Hội đồng Ngữ học và Việt học Bộ Giáo dục và Đào tạo - Tác giả bài viết trên Báo “Quân đội nhân dân cuối tuần” số 600, đã đọc văn bản 3133/KHCN và khảng định văn bản (VB) này không phải của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội (lúc đó là ngài Đào Trọng Thi). Dựa vào khoa học phân tích VB và thực tế, Nhà giáo đã chỉ ra nhiều vấn đề sai phạm của Thông báo số 3133/KHCN là:
- Người soạn thảo VB không nắm được luật Giáo dục của CHXHCNVN.
- Người soan thảo VB xử lý thông tin là có vấn đề (do sự điều khiển của ông Vũ Minh Giang - cán bộ quản lý không có bằng tiến sĩ quản lý và là tác giả kịch bản bảo kê tiến sĩ Chu Thị Thanh Tâm yếu kém về khoa học và đạo đức & tư tưởng).
- Người soạn thảo VB không có VB kết luận của Giám đốc ĐHQGHN (ghi Ngày - Tháng - Năm và Chữ ký).
- Ông Vũ Minh Giang không xử lý đề tài phản giáo dục học QN.02.02 không thực hiện phương pháp làm việc khách quan, lịch sử, không phân tích và đối chiếu VB, chỉ dựa vào quyền năng chủ quan để kết luận vấn đề.
- Ông Vũ Minh Giang vì không xử lý đề tài phản giáo dục học QN.02.02 đã tạo cơ hội để Chu Thị Thanh Tâm thực hiện những suy nghĩ và hành vi xấu trong giáo dục đào tạo, trong quan hệ với đồng nghiệp và Báo chí…
- Ông Vũ Minh Giang không xử lý đề tài phản giáo dục học QN.02.02, vì đồng tình quan điểm trái ngựợc của Chu Thị Thanh Tâm về các văn kiện nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục ở Việt Nam.
- Ông Vũ Minh Giang không xử lý đề tài phản giáo dục QN.02.02 để đưa Chu Thị Thanh Tâm đi nước ngoài thực hiện tư tưởng hai mặt của mình.

Dưới đây là tóm tắt nội dung CDA (cụm từ tiếng Anh, dịch là: Phân tích diễn ngôn phê phán):

1. Ông Vũ Minh Giang kết luận “không thể đánh giá TS. Chu Thị Thanh Tâm về mặt tư cách đạo đức cũng như năng lực khoa học” là lấp liếm sự thât, là lẩn tránh thông tin phê bình Chu Thị Thanh Tâm từ các báo: Quân đội nhân dân, Giáo dục và Thời đại, Thể thao & Văn hoá, Văn nghệ trẻ, là coi thường dư luận của sinh viên và giảng viên môn CSVHVN ở trường ĐHNN, là mâu thuẫn với Quyết định của trường Đại học Ngoại ngữ về việc cấm dùng sách “Đổi mới phương pháp day-học môn Cơ sở văn hoá Việt Nam“ (Sách này chính là đề tài Chuyên ngành giáo dục, mã số QN.02.02 đem đổi tên và được NXB ĐHQGHN cho in ra). Đó cũng là hành vi phớt lờ những ý kiến cởi mở, thẳng thắn và nhân đạo cộng đồng của Nhà giáo Đỗ Bá Lộc (đối lập với sự nhân đạo cá nhân của ông Vũ Minh Giang và ê kíp của ông này).
Hành vi khai khống các công trình NCKH, hành vi liên hệ với các phản biện vì mục đích phi khoa học, hành vi lựa chọn người phản biện, hành vi chạy xin ý kiến các nhà khoa học mà ông Vũ Minh Giang đã biết chính là cơ sở để đánh giá đạo đức & năng lực khoa học của Chu Thị Thanh Tâm.
Các hành vi của Chu Thị Thanh Tâm được bảo kê có hệ thống trên cơ sở tư duy thực dụng cá nhân( nhân đạo cá nhân) của Vũ Minh Giang, trên cơ sở sự chạy chọt và phản chắc của Chu Thị Thanh Tâm.

2. Ông Vũ Minh Giang kết luận : Việc nghiêm thu đề tài QN.02.02 do TS Chu Thị Thanh Tâm làm chủ nhiệm giao cho đơn vị quản lý, được thành lập theo đúng quy trình và các văn bản pháp qui hiện hành” .
Nhưng trong thực tế, việc nghiệm thu đề tài này không theo đúng quy trình và các văn bản pháp qui hiện hành của chính ĐHQGHN. Đây là truyền thống của ĐHQGHN đối với trường ĐHNN?!!!
Cụm từ “văn bản pháp qui hiện hành” được nêu ra là cơ sở pháp lý trong diễn trình xử lý các đề tài có vấn đề kéo dài từ năm 2004 đến nay. Trước pháp luật, luật sư sẽ dựa vào các văn bản pháp qui hiện hành để bảo vệ hay không bảo vệ thân chủ của mình.

Chúng tôi nhấn mạnh một số điều khoản trong VB pháp qui hiện hành được vận dụng để xử lý đề tài chuyên ngành giáo dục học QN.02.02 và để ra Quyết định đình chỉ hoạt động của đề tài QG.05.41 do TS Chu Thi Thanh Tâm chủ trì:
“ Hướng dẫn về quản lý các đề tài Khoa học và Công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội “ (Theo Quyết định số 937/KHCN ngày 19 tháng 3 năm 2007 của Giám đốc ĐHQGHN).
Điều 26. Nội dung đánh giá nghiệm thu các đề tài khoa học/công nghệ của ĐHQGHN
(1). Giá trị khoa học của các kết quả nghiên cứu: Giải quyết những nhiệm vụ KHCN của ngành; theo định hướng ưu tiên của Nhà nước và của ĐHQGHN; có giá trị khoa học cao; tính mới, tính sáng tạo; độ tin cậy cao (phương pháp nghiên cứu tiên tiến; thiết bị hiện đại, được công bố trên những tạp chí chuyên ngành có uy tín quốc tế, quốc gia, báo cáo tại những hội nghị khoa học lớn ở trong và ngoài nước,...).
(2). Giá trị ứng dụng: Phát triển công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới; có bằng sáng chế,...; cung cấp những luận cứ khoa học có giá trị, thiết thực góp phần hoạch định chủ trương đường lối, cơ chế chính sách
Điều 27. Hội đồng đánh giá nghiệm thu các đề tài cấp ĐHQGHN
(1). Hội đồng đánh giá nghiệm thu đề tài cấp ĐHQGHN do Giám đốc ĐHQGHN ra quyết định thành lập. Hội đồng nghiệm thu đề tài đặc biệt và đề tài ĐHQGHN có từ 7 - 9 thành viên, hội đồng nghiệm thu các đề tài trọng điểm có từ 7 -11 thành viên, trong đó không quá 1/3 số thành viên hội đồng là đại diện cho cơ quan quản lý Nhà nước, cơ sở sản xuất, ứng dụng liên quan. Tối thiểu phải có 1/3 số thành viên hội đồng là cán bộ ngoài cơ quan chủ trì đề tài. Đối với đề tài có sản phẩm đã được ứng dụng, thử nghiệm, triển khai phải có đại diện cơ sở ứng dụng, nhận chuyển giao kết quả nghiên cứu đề tài tham gia hội đồng.
(2). Hội đồng có chủ tịch và các thành viên khác bao gồm thư ký, 2 uỷ viên phản biện (là các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu, không trong cùng một cơ quan, trong đó có ít nhất 1 phản biện ngoài ĐHQGHN) và các uỷ viên hội đồng.
(3). Thành viên hội đồng phải là các chuyên gia khách quan, có trình độ chuyên môn phù hợp và am hiểu lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. Thành viên hội đồng chịu trách nhiệm trước Giám đốc ĐHQGHN về kết quả đánh giá nghiệm thu đề tài.
Điều 33. Chế tài xử lý đối với các đề tài không hoàn thành và chủ nhiệm đề tài không hoàn thành.
(1). Các đề tài đã quá hạn 6 tháng so với thời gian quy định (kể cả thời gian được gia hạn) mà chưa được nghiệm thu, các đề tài được hội đồng nghiệm thu đánh giá ở mức không đạt yêu cầu; các đề tài vi phạm các quy định trong hướng dẫn hoặc không đủ khả năng tiếp tục thực hiện có quyết định đình chỉ thực hiện đề tài của cấp quản lý có thẩm quyền được xem là đề tài không hoàn thành.
(2). ĐHQGHN ra quyết định xử lý với các đề tài trọng điểm/đặc biệt/cấp ĐHQGHN không hoàn thành; thủ trưởng đơn vị ra quyết định xử lý với các đề tài cấp cơ sở không hoàn thành.
……..
(5). Trong trường hợp cần thiết, ĐHQGHN/đơn vị chủ trì ra quyết định thành lập hội đồng để thẩm định, đánh giá mức độ nội dung không hoàn thành với các đề tài thuộc thẩm quyền quản lý. Căn cứ kết quả đánh giá của hội đồng và kết quả xác minh nguyên nhân dẫn đến việc đề tài không hoàn thành, các cấp quản lý phê duyệt đề tài (ĐHQGHN/đơn vị trực thuộc) ra quyết định xử lý thu hồi toàn bộ hoặc một phần kinh phí đã cấp theo các quy định hiện hành của Nhà nước.
(6). Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định về việc nộp trả kinh phí cho ngân sách nhà nước của các cấp quản lý có thẩm quyền, đơn vị chủ trì và chủ nhiệm đề tài có trách nhiệm nộp hoàn trả kinh phí cho ngân sách Nhà nước theo phân cấp quản lý ngân sách, và theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của ĐHQGHN.
(7). Chủ nhiệm đề tài không hoàn thành không được xem xét, bổ nhiệm làm chủ nhiệm các đề tài mới của ĐHQGHN trong vòng 36 tháng kể từ ngày hết thời hạn thực hiện của đề tài (với các đề tài quá hạn cho phép/nghiệm thu không đạt yêu cầu) hoặc từ ngày có quyết định đình chỉ thực hiện (với các đề tài không hoàn thành do những nguyên nhân khác).
(8). ĐHQGHN thông báo danh sách các chủ nhiệm đề tài cấp ĐHQGHN không hoàn thành tới các đơn vị trực thuộc.
(9). Căn cứ mức độ, nguyên nhân không hoàn thành đề tài (cấp ĐHQGHN, cấp cơ sở), thủ trưởng đơn vị trực thuộc có trách nhiệm xem xét, xử lý chủ nhiệm các đề tài không hoàn thành như cán bộ viên chức không hoàn thành nhiệm vụ theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của ĐHQGHN.”

3. Kết luận của ông Vũ Minh Giang: Hội đồng nghiệm thu đề tài chuyên ngành Giáo dục học, mã số QN.02.02 “là một hội đồng khoa học hoàn toàn phù hợp với quy trình quản lý KHCN của ĐHQGHN tại thời điểm năm 2004” là đi ngược lại thực tế dưới đây (vi phạm Điều 27):
(1) Uỷ viên phản biện 1: GS. Trần Quốc Vượng là bố đẻ của người thực hiện đề tài, ông không phải là
chuyên gia Giáo dục học, ông không biêt gì về CNTT.
(2) Uỷ viên phản biện 2: TS. Nguyên Lân Trung không phải là chuyên gia CNTT, không phải là chuyên gia giáo dục học, không phải là giảng viên CSVHVN.
(3) Ủy viên hội đồng: TS Nguyễn Thị Phương không biết về CNTT, không phải là giảng viên CSVHVN.
(4) Nôi dung phản biện không phản ánh đúng thực trạng của đề tài do người viết không phải là chuyên gia Giáo dục học, chuyên gia CNTT, không phải là giảng viên CSVHVN.
(5) Nội dung phản biện không khách quan do người phản biện không đọc kỹ đề tài.
(6) Nôi dung phản biện không khách quan vì người viết là Bố đẻ của người thực hiện đề tài.
(7) Người thực hiện đề tài liên hệ với người phản biện trước thời gian nghiệm thu đề tài.
(8) Thay đổi Uỷ viên Hội đồng vì mục đích phi khoa học.
(9) Không để Chủ nhiệm bộ môn Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam - Trường ĐHNN vào Hội đồng nghiệm thu đề tài QN.02.02 vì ông là người là người phát hiên ra nhiều sai sót của đề tài về CNTT, về kiến thức VHVN, về Giáo dục học.

4. Một số câu hỏi của phụ huynh:
Câu hỏi 1: Trong tuyển sinh đại học, Bố không được phép Chấm bài thi của Con, nếu phát hiện ra thì kết qủa bài thi sẽ bị huỷ. Vậy tại sao đề tài Chuyên ngành giáo dục học QN.02.02 bị phát hiện: phản biện là bố của người thực hiện đề tài, nhưng đề tài vẫn được bảo kê?
Câu hỏi 2: Tại sao trong phản biện đề tài trước đây, ĐHQGHN lại cho phép người có chuyên môn này chấm đề tài ở chuyên môn khác? Điều này có đi ngược lại những qui đinh của Giáo dục Đào tạo?
Câu hỏi 3: Xin cho biết vì sao ĐHQGHN lại để tiến sĩ không có chuyên môn phù hợp với đề tài Chuyên ngành giá dục học QN.02.02 làm uỷ viên Hội đông nghiệm thu? ĐHQGHN sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?
Câu hỏi 4: ĐHQGHN định sửa sai như thế nào khi kết luận “Đây là một hôị đồng khoa học hoàn toàn phù hợp với quy trình quản lý KHCN của ĐHQGHN tại thời điểm năm 2004” là dối trá sự thật, là bảo kê đề tài QN.02.02.

5. Ông Vũ Minh Giang kết luận “ĐHQGHN quản lý hoạt động KHCN bằng qui trình theo các văn bản pháp qui”. Nhưng đề tài chuyên ngành Giáo dục QN.02.02 đã được thực hiện sai qui trình. (vi phạm Điều 27)
Vậy tại sao ĐHQGHN không xử lý đề tài theo các văn bản pháp qui, mà lại cố tình “dưa vào kết luận đánh giá của các chuyên gia phát biểu với tư cách là thành viên các Hội đồng nghiệm thu.” Thực tế, việc phản biện đề tài chuyên ngành giáo dục QN.02.02 là không có chuyên gia nào hết. Như vậy, Giáo sư Vũ Minh Giang đã kết luận sai. Ông nên đi vào thực tế diễn trình nghiệm thu đề tài khoa học ở ĐHQGHN để có kết luận đúng.

6. Đối với đề tài QG.05.41 là có thể “dựa vào kết luận đánh giá của các chuyên gia” vì Hội đồng bảo vệ đề cương đã có những uỷ viên chuyên môn:
(1). Giáo sư, Tiến sĩ Lê Quang Thiêm, Giáo sư Ngôn ngữ học đối chiếu, Tác giả cuốn “Nghiên cứu đối chiêu các ngôn ngữ. NXB.ĐHQGHN….
(2). Tiến sĩ Võ Đại Quang, giảng viện Ngữ dụng học ….
(3). Nhà giáo Đỗ Bá Lộc, giảng viên chính về Ngôn ngữ học đối chiếu ( cho Khoa NN & VH Anh- Mỹ, khoa NN & VH Trung Quốc, khoa NN & VH Pháp) - giảng viên chính về CSVHVN, giảng viên chính về DLNNH, giảng viên chính về Ngữ dụng học, giảng viên chính về TV thực hành & TV lý thuyết. Ông là tác giả các chương trình của Đại học Quốc gia Hà Nội dùng cho người học ngoại ngữ ( đã được nhà xuất bản ĐHQGHN in và đã phổ biến ở trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội)
+ Dẫn luận Ngôn ngữ học
+ Cơ sở Văn hóa Việt Nam
+ Tiếng việt 1
+ Tiếng Việt 2
+ Ngôn ngữ học đối chiếu

7. Ông Vũ Minh Giang kết luận rằng ý kiến của Nhà giáo Đỗ Bá Lộc là “chưa đủ cơ sở để phủ nhận ý kiến của hai phản biện cũng như kết luận của Hội đồng nghiệm thu” chứng tỏ tỏ ông này đã không làm việc (hoặc không có năng lực làm việc) một cách khách quan trên cơ sở khảo sát, phân tích các văn bản (xin xem mục 3 đã nêu ở trên) hòng tránh xử lý đề tài Giáo dục học QN.02.02 - lách Điều 33 - tạo cơ hội cho Chu Thị Thanh Tâm làm chủ nhiệm đề đề tài QG.05.41

8. Cuối cùng là những kết luận về đề tài chuyên ngành Giáo dục học QN.02.02. để xử lý theo văn bản pháp qui hiện hành:

(1) Đề tài không hoàn thành được các nhiệm vụ chính (vi phạm Điều 26):
- Khái niệm, Cấu tạo, Vai trò, Khả năng ứng dụng của “Bài giảng điện tử” vào viêc dạy học môn Cơ sở văn hoá Việt Nam không được đặt ra để nghiên cứu ở Chương 1. Vây đề tài không thực hiện được nhiệm vụ chính thứ nhất.(xem trang 6, tập 1 của Đề tài)
- Kỹ năng học môn Cơ sở văn hoá Việt Nam bằng “ Bài giảng điện tử” cho sinh viên không được đặt ra ở Chương 2 . Vậy đề tài không thực hiện được nhiệm vụ chính thứ năm (xem trang 6, tập 1 của đề tài)
- Mục tiêu bài học, câu hỏi theo bài không ăn khớp với “Bài giảng điện tử” ở chương 2. Vậy đề tài không thực được nhiêm vụ chính thứ tư (xem trang 6, tập 1 của đề tài)
- Bài giảng mẫu trình bầy hời hợt & sai lạc nội dung VHVN và không có hướng dẫn kỹ năng học cho sinh viên. Do đó đề tài không thực hiện được nhiệm vụ chính thứ ba (xem trang 6, tâp 1 của đề tài).
- Bài giảng mẫu không hướng dẫn kỹ năng soạn, kỹ năng diễn hình “Bài giảng điện tử”

(2) Đề tài không thực hiện được mục đích nghiên cứu (vi phạm Điều 26):
- Vì không hoàn thành các nhiệm vụ chính nói trên mà đề tài QN.02.02 không “hình thành được giáo học pháp tin học cho môn CSVHVN” như mục đích thứ nhất đã đặt ra.
- Các thuật ngữ “kỹ năng soạn bài gỉảng”, “kỹ năng lấy giữ liệu trên mạng”, “kỹ năng trình bầy” nêu ra trong đề tài là thiếu nghiêm túc bởi đó chỉ là những tên gọi cho oai. Trong đề tài chẳng có nội dung nghiên cứu về các kỹ năng.
- Cụm từ “Giáo học pháp tin học”, Cụm từ “Giáo học pháp tin học cho môn Cơ sở văn hoá Việt Nam” chỉ là những tên gọi không có nội dung thông tin.Thật là…

(3) Đề tài rất yếu về kiến thức và kỹ năng công nghệ thông tin.
- Không phân biệt được thuật ngữ IT và ICT trong nghiên cứu ứng dụng vào dạy học môn CSVHVN.
- Các tài liệu về IT(công nghệ thông tin:CNTT) và ICT(công nghệ thông tin - truyền thông: CNTT-TT) bằng tiếng Pháp không được làm rõ khi trích dẫn trong đề tài.
- Kiến thức CNTT ở Chương 1 không được ứng dụng cụ thể, ứng dụng như thế nào vào Chương 2.
- Không tạo ra được những khái niệm, những kỹ năng cấu tạo “Bài giảng điện tử” và kỹ năng dạy học bằng “Bài giảng điện tử”.
- Mục tiêu bài giảng đằng nội dung “Bài giảng điện tử” một nẻo

Ghi chú: các sự thật yếu kém trong quản lý khoa học, trong phản biện khoa học và trong nhân cách khoa học sẽ được CDA chỉ ra qua các đề tài NCKH của TS.Chu Thị Thanh Tâm trong năm 2009. Mong rằng các nhà khoa học chân chính tham gia CDA, góp phần phát triển khoa học & giáo dục nước nhà.


======= Mời Quý vị nhấn chuột vào dòng chữ xanh (hoặc rê chuột vào dòng chữ: nhận xét hoặc dòng chữ vàng hay dòng chữ đỏ) để tiếp tục theo dõi thông tin.
Được đăng bởi DBLViet

8 nhận xét:

Nặc danh nói...

ĐHQGHN định sửa sai như thế nào khi có kết luận dối trá về sự thật trong quản lý đề tài QN.02.02 “Đây là một hôị đồng khoa học hoàn toàn phù hợp với quy trình quản lý KHCN của ĐHQGHN tại thời điểm năm 2004” ?
Tôi không thể chấp nhận đạo đức quản lý khoa học của ĐHQGHN.
Người theo dõi vụ việc bê bối của ĐHQGHN gửi đến CDA

Nặc danh nói...

Ông Vũ Minh Giang kết luận rằng :Hội đồng nghiệm thu đề tài chuyên ngành Giáo dục học, mã số QN.02.02 “là một hội đồng khoa học hoàn toàn phù hợp với quy trình quản lý KHCN của ĐHQGHN tại thời điểm năm 2004”.
Nghĩa là vào thời điểm đó, ĐHQGHN có thể chấp nhận những tiêu cực trong quản lý khoa học, trong NCKH và Phản biện khoa học như đa nêu trong bài phê phán của CDA về đề tài QN.02.02 ?
Thật nực cười, thật chẳng ra gì!!!
Chúng tôi đề nghị cộng đồng khoa học cho khảo sát sự quản lý khoa học của ĐHQGHN trong thời kỳ từ năm 2004 đén năm 2008: bắt đầu từ đề tài phản giáo dục QN.02.02 và QG.05.41 và bắt đầu từ những phản biện của giáo sư Trần Quốc Vượng và Giáo sư Hoàng Trọng Phiến.
Chúng tôi kêu gọi các nhà khoa học chân chính, các doanh nhân hảo tâm hãy đầu tư tài chính để tìm ra những bê bối chiều sâu của ĐHQGHN trong NCKH vì sự phát triển khoa học xã hội Việt Nam

Công dân Khoa học gửi cho CDA

Nặc danh nói...

Xin cám ơn người theo dõi.
Nếu phát ngôn: " Đây là một hội đồng khoa học hoàn toàn phù hợp với quy trình quản lý KHCN của ĐHQGHN tại thời điểm năm 2004" là của ông Vũ Minh Giang (cán bộ quản lý khoa học cấp cao nhất của ĐHQGHN), thì hoá ra ĐHQGHN đã cấp nhận các hành vi bất hợp pháp trong NCKH sau:
1. cho phép người không có chuyên môn làm phản biện Đề tài NCKH.
2. cho phép Bố phản biện đề tài NCKH mà con đang thực hiện.
3. cho phép người thực hiện đề tài chạy và liên hệ với phản biện và chủ tich Hội đồng nghiệm thu.
4. chấp nhận đề tài yếu kém về khoa học, giáo dục & tư tưởng.
5. chấp nhận phản biện khoa học yếu kém (hoặc do phản biện không có chuyên môn, hoặc do phản biện không đọc các tài liệu trích dẫn trong đề tài, hoặc do phản biện có quan hệ gia đình, quan hệ cá nhân và quan hệ làm ăn với người thực hiện đề tài).
Trước tinh hình như vậy, chúng tôi xin đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo
cho khảo sát như Đề tài NCKH vào những năm 2004 ở ĐHQGHN, mà bắt đầu là vụ việc điển hình: QN.02.02 và QG.05.41 ( cũng xin đề nghị Bộ cho khảo sát cả luận án Tiến sĩ của Chu Thị Thanh Tâm) để thấy rõ chất lượng NCKH của ĐHQGHN.

Phụ huynh gửi đến CDA

Nặc danh nói...

Kính gửi CDA
Chúng tôi rất bất bình về việc ĐHQGHN không chịu nhận lỗi và trả lời những thông điệp của CDA.
Sở dĩ chúng tôi dám khảng định điều mình gủi đến CDA vì chúng tôi đã đọc những văn bản gốc liên quan đến đề tài QN.02.02 và QG.05.41.
Xin lỗi CDA , tôi không ghi danh vì tôi còn đang làm việc và sợ bị trả thù bằng cách không cho lên lương và không cho phụ trách bộ môn
Thành thật cám ơn CDA vì đã cho tôi và các nhà khoa học yêu nước biết sư thật khoa học của ĐHQGHN

Nặc danh nói...

Chúng tôi không hiểu, người Phụ nữ Quản lý cuốn sách " Nữ tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội có phải nhà khoa học chân chính không, có đạo đức nghiên cứu khoa học không, có bảo vệ danh dự của các nhà khoa học nữ chân chính ở ĐHQGHN không, mà có tình không xin lỗi nhân dân, không trả lời Báo Quân đội nhân dân về những hành vi yếu kém của mình: đưa tin dối trá nhân dân
Người đọc báo và nghiên cứu và phát hiện trong cuốn sách này có nhiều điều xúc phạm đén nhân dân, xúc phạm các nhà khoa học nữ dẫ thật sự cống hiến cho ĐHQGHN.
(Tóm tắt thông điệp gửi đến CDA)

Nặc danh nói...

Kính gửi CDA
Qua sự phê phán của CDA và quá trình đối chiếu với các văn bản yếu kém như :
1. Văn bản phản biện của Giáo sư Trần Quốc Vượng, Giáo sư Hoàng Trọng Phiến, của Cán bộ quản lý Đối ngoại Vũ Ngọc Tú (bi mất chức sau vụ việc Chu Thi Thanh Tâm)
2. Văn bản đề tài QN.02.02 & đề tài QG.05.41 và sách "đổi mới..."
của Tiến sĩ yếu kém Chu Thị Thanh Tâm
Chúng tôi cho rằng:
1. Những người bảo kê và cho nghiệm thu hai đề tài của Chu thi Thanh Tâm và các đồng sự của tiến sĩ yếu kém này - không xứng đáng là nhà khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Việc không cho thu hồi và loại bỏ hai đề tài trên thể hiện sự yếu kém trong tư duy & đạo đức và hành động quản lý khoa học của ông Vũ minh Giang và ê kíp của ông này ở Đại học quốc gia Hà Nội.
3. Vì danh dự của Đại học quốc gia Hà Nội về mặt Khoa học và Giáo dục, Giám đốc ĐHQGHN cần có xử lý mạnh mẽ: lấy vụ Chu Thị Thanh Tâm - Vũ Minh Giang làm điển hình để tìm ra những vấn đề yếu kém qua cuốn " Nữ tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội" - Cuốn sách đã xúc phạm đến nhân dân, đến các nhà khoa hoc ,đặc biệt xúc phạm các nhà khoa học nữ đã có những đóng góp to lớn trong sự phát triển của Đại học quốc gia Hà Nội.
(Tóm tắt ý chính của các nhà khoa học chân chính gửi đến CDA)

Người cùng thời

Nặc danh nói...

Việc nghiên cứu và thực hiện mọi biện pháp không để cho các nhà giáo của nhân dân, các nhà khoa học chân chính của ĐHQGHN biết rõ vụ việc bê bối QN.02.02 và QG.05.41 - là thể hiện sự yếu kém về đạo đức thông tin và nhân cách quản lý.

Hành vi "chốn tránh của ĐHQGHN" đã chứng tỏ các nhà báo đúng, các nhà giáo chân chính đúng, các nhà khoa học thật sự đúng, toàn thể sinh viên khá giỏi đúng khi phê phán về:
- Sự yếu kém trong nghiên cứu khoa học của hai đề tài QN 02.02 và QG.41.05.41 cấp ĐHQGHN (do nhóm tiến sĩ và thạc sĩ của ĐHQGHN thực hiện , chủ nhiệm đề tài là Tiến sĩ Chu Thị Thanh Tâm yếu kém về khoa học và đạo đức & tư tưởng)
- Sự yếu kém về Tư duy và hành vi phản biện của một số giáo sư tham gia đánh giá đề tài phản giáo dục QN.02.02 và đề tài khai khống & lạc đề QG.05.41
- Sự không trung thực về khoa học & về đạo đức và về trách nhiệm trước Nhà nước, trước nhân dân của các chủ tịch Hội đồng nghiệm thu hai đề tài trên.
- Sự yếu kém về quản lý khoa học và đạo đức của ông Vũ Minh Giang qua vụ việc QN.02.02 & QG.05.41

Xin cám ơn CDA và ông Giáo sư Nguyễn Hòa - người gợi ý lý thuyết CDA ở Việt Nam.
Xin cám ơn CDA-Net: khoa học về sự phân tích hiện trạng khoa học
ở ĐHQGHN.
Xin cảm ơn cơ quan chuyên môn đã giúp đỡ CDA-Net hoàn thành nhiệm vụ của Đảng & của Dân tộc vì một nền khoa học thực sự.
Xin cảm ơn nhà giáo Đỗ Bá Lộc trong việc làm hết sức mình vì chất lượng NCKH ở ĐHQGHN.

Tôn Văn - Bạn đọc của thư viện ĐHQGHN gửi đến CDA

Nặc danh nói...

Trong tập sách “Nữ tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội” có thông tin về tên của một công trình cấp Đại học Quốc gia Hà Nội . Nhưng trong thực tế từ năm 2006 đến năm 2009 không hề có công trình này. Đó là hành vi dối trá nhân dân Việt Nam và bạn bè Quốc tế - hành vi trong kế hoạch bảo kê tiến sĩ yếu kém Chu Thị Thanh Tâm của ông Vũ Minh Giang.
Hãy làm rõ thông tin này bằng cách đến ngay ĐHQGHN (Ban khoa học &Công nghệ và Thư viện của Đại học Quốc Gia Hà Nội) để biết rằng chẳng có quyển sách nào như đề tài khoa học có tên in trong tập sách nêu trên .